TRANG BÌA

www.lebichson.org

TRANG BÌA

      

..

 

Ông Tú Nhơn Ân

Nguyễn Diêu

THUÝ VI

 

          Nói đến Danh nhân Văn hóa Đào Tấn, thì không thể nào không nhắc đến Ông Tú Nhơn Ân – Nguyễn Diêu. Bởi lẽ Đào Tấn là học trò yêu của Nguyễn Diêu. Ông chịu ảnh hưởng của Nguyễn Diêu về nhiều mặt, cả về đạo đức, học vấn lẫn nghề nghiệp. Suốt cuộc đời mình Đào Tấn luôn nhớ đến công ơn thầy, làm nhiều thơ văn nói về người thầy kính yêu của mình.

          Nguyễn Diêu (tự Quỳnh Phủ) sinh ngày 21/7 năm Minh Mệnh thứ 2 (1822), mất ngày 19-3 năm Tự Đức thứ 33 (1880), quê quán làng Nhơn Ân, xã Phước Thuận, Tuy Phước. Người đời trân trọng gọi ông là Quỳnh Phủ tiên sinh.

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo, cha mất sớm, nhờ tinh thần hiếu học, bền chí vượt mọi gian lao, Nguyễn Diêu sớm trở thành một danh sĩ nổi tiếng học rộng, biết nhiều.

          Nguyễn Diêu đỗ tú tài khoa Canh Thân năm Tự Đức thứ 13 (1860), vì vậy người ta cũng thường gọi ông một cách yêu mến là Ông Tú Nhơn Ân. Ông tiếp tục con đường khoa cử nhưng không thành đạt nên về nhà mượn thơ rượu với trăng thanh, cỏ biếc làm vui; làm thơ, viết tuồng và mở trường dạy học, đào tạo được nhiều nhân tài. Đào Tấn là một trong số đó.

          Nhiều người biết tiếng cụ Tú Nhơn Ân. Nhiều tài liệu viết về cụ, nhưng rất sơ sài, cả về tiểu sử lẫn văn nghiệp. Tác phẩm của ông cũng bị thất lạc hầu hết. Hiện nay chỉ còn một số vở tuồng: Ngũ Hổ Bình Tây, Liệu đố (chữa bệnh ghen), Chém cáo… một số bài thơ nôm: Chán đời, An phận, Con muỗi, bài phú Hàn sĩ vịnh do Bùi Văn Lăng dịch và in lại trong tập Danh nhân Bình Định.

          Khi còn đi học, Nguyễn Diêu ở nhà trọ một phú ông. Vì cảm tài sắc của nhau, ông và cô con gái của phú ông yêu nhau tha thiết. Thân mẫu ông coi tuổi không hạp nên không cho cưới, cô gái mang bệnh tương tư mà qua đời. Tương truyền, vì cái mặc cảm tội lỗi ấy nên cụ Tú Diêu ân hận suốt đời. Tuy học giỏi, vẫn đi thi nhưng ông không thiết gì đến khoa bảng. Có lẽ nguyên cớ ấy chỉ là một phần nhỏ mà thôi. Nguyên nhân chủ yếu là đứng trước cảnh nhiễu nhương của thời đại, Nguyễn Diêu cố gắng tìm cách tốt nhất để giữ vững danh tiết của một nhà nho bằng con đường ở ẩn và dạy học. Nguyễn Diêu thông hiểu lẽ xuất xử của một nhà nho, suốt cuộc đời mình ông chỉ mong sống một cuộc sống thanh bần lạc đạo, không màng đến công danh, phú quý. Nhiều người cho rằng, nhân sinh quan của Nguyễn Diêu đậm màu Lão giáo. Xét cho cùng trong tình thế bây giờ, Nguyễn Diêu có phần đúng của mình. Đào Tấn khi về hưu cũng hối tiếc đã phụ lời thầy dạy, lại chen chân vào chốn quan trường đầy thăng trầm, chao đảo.

          Nguyễn Diêu thường nói về mình: “Trăm đều không bằng người nhưng chưa từng có lòng xảo trá, do đó dáng dấp và tinh thần không mệt mỏi, cơm áo thì hơi no đủ cũng là được rồi, nhưng chẳng cần phải nghĩ ngợi nhiều về chuyện có và không”. Bài phú Hàn sĩ vịnh của ông vừa là tự vịnh, vừa nhằm khuyến khích học trò đừng vì nghèo mà thối chí, phải kiên tâm mà dùi mài kinh sử, nhưng cũng cần phải sáng suốt thấy được tình đời, tình người.

          Bấy giờ, thực dân Pháp dần củng cố ách đô hộ trên đất nước ta. Trước sự đê hèn của phần lớn vua quan nhà Nguyễn, Nguyễn Diêu nhận định:

Liếc mắt thấy thế tình đà điên đảo

Lắng tai nghe thời sự quá dở dang

(Hàn sĩ vịnh)

Chính vì thế mà ông chán đời :

Văn hay chẳng khỏi nề xanh cỏ

Võ giỏi rồi ra cũng bạc đầu

(Chán đời)

Và ông chỉ muốn an phận :

Áo cơm xong phận theo ngày tháng

Ruột đặng như vầy rứa cũng tiên

(An phận)

          Ông có phần tự hào về cuộc sống thanh bần, lạc đạo của mình. Hai câu thơ sau biểu hiện rất rõ nhân sinh quan của Nguyễn Diêu:

Vui là vui với bá tòng là bầu bạn, đói no kinh sử cũng thỏa lòng.

Đường lợi danh trối kẻ ước mong, trường đạo lý thời ta nông nã.

(Hàn sĩ vịnh)

          Nhưng không phải vì chán đời, vì an phận mà ông tách rời hẳn cuộc đời. Nếu trò Đào Tấn lúc thiếu thời thường làm thơ, vè đả kích bọn cường hào thì thầy Nguyễn Diêu cũng để lại bài thơ Con muỗi tỏ rõ lòng căm ghét bọn tham quan ô lại. Ông ví bọn chúng như những con muỗi chuyên hút máu, và ông mơ ước:

Băng tiêu quạt nọ trời cho mỗ

Ra sức đập mày cũng chết queo

(Con muỗi)

          Thật ra, văn và tài của Nguyễn Diêu không thể sánh bằng Đào Tấn, tuy nhiên người đời thường vẫn xưng tụng ông và Đào Tấn là “Bình Định song hùng”. Nguyễn Diêu được nhiều người biết đến là nhờ ở những vở tuồng của ông. Đặc biệt vở tuồng Ngũ hổ bình Tây được xem là một trong những vở tuồng cổ hay nhất, được lưu truyền, được dàn dựng và biểu diễn qua nhiều thời đại.

          Vở tuồng trên gồm 3 hồi. Hồi 2 là hồi xuất sắc nhất, được rút ra thành một vở độc lập, tên là Địch Thanh ly Thợn. Theo Quách Tấn: “Hồi Địch Thanh ly Thợn là hồi mà Nguyễn Diêu ký thác tâm sự của mình nhiều nhất. Bao nhiêu nỗi đau thương cụ đều gởi gắm trong hồi này. Cụ vì hiếu mà phải phụ tình khiến cho người yêu phải quyên sinh. Cụ mượn lời Trại Ba trách mắng Địch Thanh để thay lời người yêu trách mắng mình; mượn lời than thở của công chúa để thể hiện nỗi đau đớn cực độ của người yêu mà cụ thông cảm và chung phần”.

          Nói đến quan hệ thầy trò giữa Đào Tấn và Nguyễn Diêu, người ta thường nhắc đến giai thoại: Sau khi Nguyễn Diêu mất, Đào Tấn đọc lại vở Địch Thanh ly Thợn và muốn chữa lại đoạn Địch Thanh từ biệt Trại Ba cho vở tuồng “thấu tình, đạt lý”. Nhằm tỏ lòng tôn kính thầy, cụ Đào đã sắm lễ vật mang đến trước bàn thờ thầy để xin phép rồi mới dám chữa lại đoạn tuồng ấy.

          Nếu vở tuồng Ngũ hổ bình Tây mang chủ đề trung, hiếu, tiết, nghĩa thì vở Chém cáo lại mang triết lý nhân văn sâu sắc. Nhân vật Nguyệt Cô vốn là giống cáo, nhờ khổ công tu luyện lâu năm, có ngọc mà được làm người, hóa thành một cô gái xinh đẹp; vì thú tính trỗi dậy, vì chạy theo tiết dục nên bị Tiết Giao lấy mất ngọc, phải trở về kiếp cáo, Nguyệt Cô ăn năn hối hận thì cũng đã muộn rồi. Văn học tuồng của vở này rất hay, xin giới thiệu một đoạn:

Gió tỏa phất phơ vườn hạnh

Sương rây lác đác cành dương

Đã phủi rồi son phấn một trường

Đành trở lại non nước nghìn dặm

Nghìn dặm thẹn cùng non nước

Gẫm mơ màng…

thân trước…

thân sau

Dặm hòe một bước một đau

Nhìn xem cảnh cũ ra màu dở dang

          Nhà nghiên cứu tuồng Vũ Ngọc Liễn có một phát hiện lý thú về nhân vật Nguyệt Cô. Ông cho rằng Nguyệt Cô là biểu trưng cho một hiện tượng thoái hóa, biến chất. Ở Nguyệt Cô luôn có sự dằn vặt, xâu xé giữa tính người và tính súc vật. Ngọc là vật quí nhất của Nguyệt Cô, cũng là tượng trưng cho cái nhân cách, nhân phẩm, là cái quí nhất của con người. Bởi Nguyệt Cô không giữ được cái ngọc người ấy nên từ kiếp cáo lại trở về kiếp cáo. Quả thật tính triết lý của vở tuồng có giá trị muôn thuở. Đã đánh mất cái nhân cách con người thì có hơn gì súc vật!

         Bằng vào cuộc sống trong sạch, Nguyễn Diêu là một con người đáng kính trọng. Bằng văn tài của mình, đặc biệt là qua một số vở tuồng còn lưu truyền, Ông Tú Nhơn Ân đã chứng tỏ là một nhà thơ, nhà văn, tác gia tuồng có tài, có nhiều đóng góp tích cực cho kho tàng văn học nghệ thuật cận đại Việt Nam.

 

Thúy Vi

..

Phật giáo nhập môn     Phật giáo và xã hội     Phật giáo và văn hoá     Phật giáo và giáo dục     Phật giáo quốc tế    

Phật giáo sử - truyện     PG và vấn đề tái sanh     Thơ ca Phật giáo     Âm nhạc Phật giáo     Tin tức Phật giáo

Gia Đình Phật Tử     Mẹ và Quê hương     Di tích& văn hoá đất võ     Bình Định: Đất & Người     Thơ ca Bình Định

Bài mới đăng tải     Nối vòng tay lớn     Thông báo     Linh tinh     Hình ảnh

Trang chủ     English     Liên lạc     Trang chủ

Hit Counter
"khách viếng chùa"

 

www.lebichson.org

Thành lập

ngày 10 tháng 9 năm 2003