TRANG CHỦ

TRANG CHỦ

Mười hai căn bệnh khiến con người khó có thể gặp được Phật: Không tôn kính cha mẹ là bệnh thứ nhất. Ngu si tạo nghiệp ác là hai bệnh. Gian xảo điêu ngoa là ba bệnh. Lời nói hại người là bệnh thứ tư. Hay tìm lỗi người là bệnh thứ năm. Giết hại chúng sinh là căn bệnh thứ sáu. Không biết hổ thẹn là bệnh thứ bảy. Ham mê sắc dục là bệnh thứ tám. Kiêu ngạo khinh người đó là chín bệnh. Phạm tội không hối cải là bệnh thứ mười. Khen mình chê người là bệnh thứ mười một. Không biết lợi hại là bệnh thứ mười hai.

..

 

“THẾ À!”

Trần Kiêm Đoàn

 

Tiền thoại:

-                Này, nhà sư hổ mang.  Cái bào thai kia là của ông đấy!

-                Thế à!

Tám tháng sau…

-                Bớ gã phàm tăng, con của ông đây, giữ mà nuôi nó đi.

-                Thế à!

Ba năm sau…

-                Thưa đại sư, xin thầy từ bi hỷ xả, tôi đã đổ oan cho thầy.

-                Thế à!

Cuộc chiến đấu với thị phi đã kéo dài 2 nghìn 500 năm.  Nếu thay tiếng “Thế à!” bằng lời phẫn nộ, đay nghiến, mắng nhiếc, lý sự, trả đũa… thì đạo Phật đã trở về với cát bụi bên bờ sông Hằng Hà như những Kim Tự Tháp của Ai Cập bị chôn vùi trong sa mạc hay như những lâu đài La Mã chỉ còn trơ lại dăm mảnh của đấu trường…

***

Tâm lý thường tình cho rằng, những chuyện khen chê – thị phi… nhập nhằng – chỉ xảy ra trong những mảnh đời sống vụn vặt hàng ngày mà thôi. Còn những lĩnh vực “đại sự” như tôn giáo, chính trị, văn hóa… thì phải cần đến những sự vụ đao to búa lớn hơn là những chuyện thị phi như thế. Thực tế thì đốm lửa và đám cháy rừng lắm lúc vẫn có những quan hệ hữu cơ ngoài tầm dự liệu. Tuy nhiên, đốm lửa, đám cháy và cánh rừng sẽ không bao giờ là ba thực thể, ba đối tượng ngang nhau cả. Đạo pháp và chuyện thị phi cũng thế. Đạo Phật, người tu theo đạo Phật và chuyện khen chê xưa nay không thể có sự lẫn lộn.

Từ thuở đức Phật Thích Ca thành đạo, chuyển pháp luân cho đến ngày hôm nay đã trải qua hơn 25 thế kỷ, bên cạnh những lời ngợi ca vang vọng lâu đời nhất thì vẫn có những lời chê bai đầy biên kiến nhất. Cho nên, chuyện thị phi trong sinh hoạt Phật giáo hay bất cứ một tôn giáo nào không bao giờ thiếu vắng như hai mặt sáng tối, nóng lạnh tất nhiên của đời sống.

Sau năm 1975, Phật giáo Việt Nam cũng theo dòng người di tản lan ra nước ngoài. Đời sống tâm linh, tôn giáo mang dấu ấn văn hóa và xã hội của con người tin theo. Phật giáo Việt ở nước ngoài, từ gốc rể cũng mang bản sắc của người Việt tha hương. Tuy nhiên, tác động của hoàn cảnh cụ thể từng nơi đã trở thành những “trợ duyên” cho sinh hoạt thờ phụng, chiêm bái và tu học. Mội trường kinh tế, xã hội và nếp sống thực dụng tại các nước phương Tây trở thành một sự thử thách mới cho Phật giáo Việt Nam truyền thống. Tinh thần Đại Thừa phát huy mạnh mẽ do tác dụng khách quan lẫn chủ quan của môi trường kinh tế thực dụng và truyền thông đại chúng quá phong phú và đa dạng tại các xứ nầy. Sự thử thách mới cụ thể, thường xuyên, trực tiếp và mạnh mẽ nhất đối với khuynh hướng tu hành thanh tịnh và tinh tấn là vật chất (tự viện, tiền bạc, xe cộ, vật dụng) và sắc dục (vẻ đẹp hào nhoáng khêu gợi bên ngoài, cung cách tự do cởi mở, có sẵn phương tiện vật chất, lòng ham muốn tính dục…)

Sự thử thách mới đã tự chứng tỏ quyền năng của nó trong suốt 30 năm qua trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Cũng có tu sĩ Phật giáo đã rủ áo hoàn tục. Cũng đã có hiện tượng tăng ni không giữ được bồ đề tâm kiên cố và dính mắc vào những hệ lụy đời thường. Tuy nhiên, đây cũng là ngọn lửa thử vàng đối với các bậc cao tăng thạc đức, những bậc tu hành vẫn giữ được tấm gương ngời sáng của bậc chân tu, tiếp tục hành đạo và hóa đạo cho đời.

Hệ quả tất nhiên của một xã hội vàng thau lẫn lộn như thế là phản ứng của đời thường.  Mức độ và nguyên nhân tuy khác nhau nhưng có thể tìm thấy được rằng: (1) Do động cơ chính trị; (2) do động cơ “thánh chiến” giữa các tôn giáo chống báng nhau; (3) do sự bất mãn, ganh tỵ, mưu đồ trục lợi; (4) do thiện chí nhưng “lực bất tòng tâm” vì sự hiểu biết hạn hẹp và quan điểm chủ quan, phiến diện;  (5) do thành tâm thiện ý muốn xây dựng đạo cho đời. 

Bao năm qua, người theo đạo Phật cũng như đồng hương đứng ngoài, càng ngày, càng cảm thấy không còn nhiệt tình quan tâm và hứng thú để theo dõi những ý kiến khen chê, những lời bình luận về sinh hoạt chùa chiền tự viện và về những tu sĩ Phật giáo “có vấn đề”. Lý do đơn giản là vì lý luận nghiêm túc thì ít mà hý luận vu vơ thì nhiều; biên kiến ngày càng khơi rộng thì chánh kiến càng ngày càng hiếm hoi. Con người càng đi nhiều, biết rộng; càng trở nên tỉnh táo hơn, độc lập hơn trong thái độ lựa chọn một hướng đi, một nếp sinh hoạt riêng cho đời sống tâm linh, tín ngưỡng của mình. Do đó, mọi sự vọng động nhằm lôi kéo người Phật tử thời nay nghiêng lệch, đảo điên bằng phương kế tin đồn, sách báo xuyên tạc, băng đĩa dèm pha… đang trở thành những trò chơi phù phiếm, lỗi thời của quá khứ.

Phải chăng đấy là lý do mấy tập sách mang tên “Giặc Thầy Chùa” của ông Đặng Văn Nhâm – ngỡ như là sẽ làm chấn động giới chùa chiền – lại không tạo được một phản ứng nào ngoạn mục về phía “giặc” lẫn phía người đọc nghiêm túc trong suốt mấy năm qua.

Khi “dường như đã lãng quên” thì tin tức Giặc Thầy Chùa lại bỗng đâu lù lù hiện đến. Qua thông tin trên mạng lưới vi tính đề ngày 31 tháng 7 năm 2007, hàng chữ đậm in đầu trang đập vào mắt người đọc như sau: Án Lệnh Chung Quyết của Tòa án Tư pháp Sơ thẩm khu vực tài phán thứ 165, hạt Harris, Texas về vụ án 2006-71920 xử vào ngày 16-2-2007.  Nguyên cáo là cô Lương Thùy Trúc và Giáo Hội Long Hoa Phật Nhị Hội nộp hồ sơ thông qua tổ hợp luật sư Hoang & Associates kiện ông Đặng Văn Nhâm về tội mạ lỵÔng Đặng Văn Nhâm không đến hầu tòa nên bị xử khiếm diện. Phiên tòa kết thúc với phán quyết là: “Tòa án đã tìm ra và phán quyết rằng bị cáo Đặng Văn Nhâm đã bịa chuyện mạ lỵ với ác ý” (Founded, adjudged and ordered that Defendant Nham Van Dang made the libelous statements with malicious intent). Theo phán quyết nầy, tòa án ra lệnh cho ông Đặng Văn Nhâm phải đền bù thiệt hại về vật chất 25.000 đô la; bồi thường danh dự 100 đô la; trả 500.000 đô la thiệt hại về đức hạnh. “Tập sách Giặc Thầy Chùa III cấm phát hành vĩnh viễn.  Bất cứ ai tiếp tục phổ biến tập sách nầy phải chịu trách nhiệm về sự sai trái mà toà án đã phán quyết.” (The book Giac Thay Chua III, Bandit Monks III, is to be permanently enjoined from distribution. Any distribution of this book is a continuation of such libel and the party distributing this book is also responsible for such libel).

Những người không theo dõi “khổ nạn” chữ nghĩa nầy từ đầu sẽ thắc mắc đại khái như: Ôi! Không biết có gì trục trặc đây?  Cái nước tự nhận là tự do ngôn luận tận lông mày, chân tóc như Huê Kỳ mà lại đi xử ép nhà văn An Nam ta nặng nề như vậy sao?!  Thật ra, tự bản chất của vụ án, đây không phải là một phán quyết của tòa án về tự do ngôn luận mà chỉ là một cách giải quyết của luật pháp về trò “lộn xộn” chữ nghĩa của thánh… bất hiền mà thôi. Người ném chữ nghĩa vi vút là nhà văn Đặng Văn Nhâm – Hội viên hội Nhà Văn Chiến Đấu Tây (Association des Écrivains Combattant Francais); cựu chủ tịch Hội Văn Bút Nước Nam Hải Ngoại – từ nước Đan Mạch xa xăm lặn lội sang Huê Kỳ hành hiệp và khổ chủ bị ném trúng phóc là cô Lương Thùy Trúc.

Nhà văn Đặng Văn Nhâm đã cho ra đời 4 cuốn sách được in ấn và bày bán rộng rãi tại Mỹ. Ba cuốn nhan đề là “Giặc Thầy Chùa 1, 2, 3” và cuốn “Đời Tôi” y như thể là “My Life” của cựu tổng thống Mỹ Bill Clinton (!)  Nội dung của 3 cuốn Giặc Thầy Chùa viết về các tu sĩ Phật giáo tại nước ngoài mà trọng điểm là tại Mỹ. Liên tục trong 3 cuốn nầy, ông Đặng Văn Nhâm đã lôi các nhà sư có tên tuổi để hài tội, luận tội và kết tội họ về các phương diện (1) quan hệ tình dục, (2) thâm lạm tiền bạc, (3) lợi dụng quyền thế.

Mở đầu cho cuốn Giặc Thầy Chùa I, ông Đặng Văn Nhâm đã noi gương và trích dẫn chuyện Chiếc Áo Đại Triều (The Emperor’s New Suit) của đại văn hào Đan Mạch, Hans Andersen và nhấn mạnh về cái phương pháp luận “xích tử chi tâm” mà ông sẽ ứng dụng trong sách ông viết.  Nói một cách nôm na là ông Đặng Văn Nhâm chủ trương “tấm lòng con đỏ”, thấy chi nói nấy chứ không gạn đục khơi trong, vo tròn bóp méo gì cả.  Nói về quan điểm nầy, ông Hồ Hoàng Đức viết trên báo Phù Sa số 126 – tháng 6/2006, đã nhận định một cách đầy tính hoạt kê về chiến lược “con đỏ” của ông Đặng như sau: “Nhà văn là người làm văn hóa, người đem vẻ đẹp của ngôn từ và tư tưởng vào tác phẩm mà phục vụ cho đời. Nay Đặng Văn Nhâm dùng lối ‘xích tử chi tâm’ như con nít sơ sanh vớ phải cục cứt gà cũng tưởng nhằm là vú mẹ đun ngay vào miệng, không gạn lọc, chọn lựa, sắp đặt, trang trí cho hay cho đẹp thì còn gì là văn vẻ, văn chương…”

Tôi không muốn lạm bàn về chuyện văn chương như ông Hồ Hoàng Đức, nhưng cũng đành phải để cho cái “tôi” đáng ghét của mình xuất đầu lộ diện chút đỉnh vì nhà văn Đặng Văn Nhâm đã sử dụng trên cả nghìn trang viết làm phương tiện truyền thông về một lĩnh vực có liên quan đến phạm vi chuyên môn của tôi. Trong lúc đó, ông Đặng chưa chứng tỏ và chứng minh được một phương pháp thu thập dữ kiện nào đáng tin cậy, có tính thuyết phục trước khi áp đặt những kết luận “điếng người” về những nội vụ thuộc về một lĩnh vực nhân sinh cực kỳ nghiêm trọng.  Đấy là lĩnh vực điều tra các vụ án xâm phạm tình dục.

Trước hết, tôi xin tóm tắt về những hiểu biết khiêm tốn của mình về lĩnh vực vừa nêu.  Từ ngày 1 tháng 8 năm 1988, tôi làm việc cho cơ quan CPS (Children’s Protective Services: Cơ quan bảo vệ thiếu niên)  của Sacramento thuộc tiểu bang California.  Đây là cơ quan làm việc trực tiếp với nạn nhân và thủ phạm để điều tra và bảo vệ trẻ em từ lúc còn ở dạng bào thai đến 18 tuổi. Trong các hình thức ngược đãi trẻ em thì sự lạm dụng tình dục (sexual abuse) là nghiêm trọng nhất.  Sự lạm dụng tình dục có 3 mức độ:  Làm tình (intercourse), đụng chạm xác thịt (molestation) và lợi dụng tình dục (exploitation). Ngoài ra, có hàng chục hình thức, khái niệm và diễn giải liên quan đến sự quan hệ tình dục.

Để thụ lý một hồ sơ về sự xâm phạm tình dục, khởi đầu, tôi phải đi từ việc nghiên cứu nội dung của báo cáo (hay tố cáo), xác định mức độ đáng tin cậy của dữ kiện nội vụ, thu thập tất cả hồ sơ về tiền án của nạn nhân và thủ phạm.  Bước tiếp theo là trực tiếp phỏng vấn nạn nhân và tất cả những ai có liên hệ hay biết về nội vụ. Sau đó đối chứng lời khai của nạn nhân, thủ phạm, những người chứng và đưa vào bộ phận chuyên môn kiểm nghiệm y khoa (DNA, thương tích thế xác, tình trạng tinh thần…)  và một trong những yêu cầu đặt nặng hàng đầu là phải hoàn toàn nghiêm khắc giữ bí mật (strict confideltiality) nội vụ và tuyệt đối tránh ảnh hưởng chủ quan, cảm tính cá nhân vào quá trình làm việc.

Suốt 18 năm làm việc liên tục trong lĩnh vực điều tra, bảo vệ trẻ em tại Mỹ, tôi quá đỗi kinh ngạc khi đọc những bài viết tường trình về các trường hợp “xâm phạm tình dục” giữa các tu sĩ và đối tượng tình dục do ông Đặng Văn Nhâm kể lại trong các trận đánh “Giặc Thầy Chùa” của ông. Kinh ngạc không phải vì những kết luận “oanh liệt” như những chiến thắng mà ông Đặng đã đắc chí đưa vào trong sách; nhưng là vì tác giả tự chứng tỏ cái “nghề mọn riêng tay” của mình quá đơn giản và ngô nghê khi “mang thai Thị Mầu níu đầu Thị Kính” bằng những thông tin mà ngành điều tra chuyên môn của Mỹ gọi một cách đầy hoài nghi và mĩa mai là “streetwise hearsay” (thông tin nghe ngóng lém lỉnh kiểu hè phố) không đáng tin cậy. Lượng thông tin thuần trực giác và cảm tính trong Giặc Thầy Chùa cùng với một văn phong thô nhám, dung tục tự nó đã làm mất vẻ trí tuệ và sức thuyết phục cần thiết khi tác giả đang cần xây dựng một luận điểm cơ bản cho nội hàm tác phẩm của mình.

Cũng là một người theo đạo Phật và cầm bút tiêu khiển, trong cảnh vàng thau lẫn lộn như đã có dịp trình bày ở phần trên, tôi sẽ rất tôn trọng và khâm phục khi ông Đặng Văn Nhâm có can đảm nói lên được những điều sai trái của một số người lợi dụng, núp bóng nhà tu. Và cũng như nhiều Phật tử thầm lặng khác, chúng tôi không ngây thơ để tin kính vô điều kiện vào chiếc áo nhà tu; cũng như chẳng vội vàng mất thì giờ quan tâm đến những hiện tượng ồn ào, cáo buộc bung xung, tùy hứng nhất thời. Nếu nói đúng, chúng ta sẽ góp phần tích cực vào việc xây dựng và cải thiện đạo Phật và sẽ được hưởng phước quả tốt đẹp của tinh thần Duy Ma Cật. Nếu cố tình nói sai để mưu cầu tiếng tăm dễ dãi thì sẽ nhận hậu quả ngược lại. Tuy nhiên, dù trong hoàn cảnh và ý hướng nào thì cũng mong ông Đặng Văn Nhâm vui lòng lưu ý đến “luật chơi.”  Nghĩa là người cầm bút cần sử dụng phương pháp và phương tiện thích hợp. Khi phê phán và quy kết một điều gì, nhất là những điều liên quan đến uy tín, danh dự của kẻ khác nếu chưa đủ bằng chứng khách quan, chứng lý khoa học thì phải tự lượng sức mình để khỏi suy diễn chủ quan, có khả năng làm trò cười cho đại chúng.

Giữa ánh sáng truyền thông công cộng nhanh như chớp mắt của thế kỷ 21, chúng ta nên tỉnh táo nhìn rõ và nhìn đúng vấn đề lẫn đối tượng làm căn bản cho “sự nghiệp sáng tạo văn chương” của mình để tránh tình trạng lẫn lộn giữa bóng và hình, giữa dữ kiện và tin đồn, giữa hiện tượng và thực chất. Kết luận hay suy diễn vội vàng có thể tạo ra sự nở rộ, hấp dẫn thoáng qua nhưng tác hại lại lâu dài, vì một trăm cuốn sách viết sai sẽ trăm lần tệ hơn một câu viết đúng. 

Nhân đây, cũng xin được thưa với nhà văn Đặng Văn Nhâm rằng, tôi tự hào và hãnh diện khi có một nhà văn xứ mình đã từng lãnh đạo giới Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại và nay lại được đứng vào đội ngũ Nhà Văn Chiến Đấu Pháp như ông. Tuy khác nhau về đất ở nhưng tôi tin rằng nhà văn là người trân trọng truyền thống tốt đẹp của dân tộc mình và dân tộc bạn. Và ít nhiều thì những tác phẩm văn chương của hội viên như Giặc Thầy Chùa cũng phản ánh khuynh hướng “chiến đấu” trên mặt trận văn học nghệ thuật của Hội. Mong rằng, nhà văn Đặng Văn Nhâm sẽ góp phần truyền đạt và uốn nắn cho các bạn đồng môn trong Hội Nhà Văn Chiến Đấu Pháp tinh thần khiêm cung và lễ độ; tránh những sự áp đặt tư tưởng thô thiển và lối hành văn dung tục khi họ viết về con người và bối cảnh Việt Nam, nhất là viết về các nhà tu.

Không rõ luật lệ ở nước Đan Mạch nơi nhà văn Đặng Văn Nhâm trú ngụ như thế nào, nhưng riêng luật pháp tại Hoa Kỳ thì hầu như tất cả các trường hợp “đánh đấm” trong Giặc Thầy Chùa đều có khả năng đi đến kết luận tương tự như trường hợp của cô Trương Thùy Trúc. 

Nhưng sự im lặng từ trước đến nay của các tu sĩ Phật giáo bị “lên list” trong Giặc Thầy Chùa là sự im lặng của thiền sư “Thế à!”. Thế mà hay!

Trong dòng chảy từ thời xa xưa của quá khứ, lịch sử nhân văn đời đời vẫn nhận ra dáng vẻ bất chính, ồn ào, vọng động của Thị Mầu là ma vương quỷ sứ. Nhưng sự im lặng “Thế à!” của Thị Kính vẫn muôn đời là tiếng hải triều âm vang vọng của Bồ tát Kỉnh Tâm.

 

Natomas, Mùa Vu Lan 2007

Trần Kiêm Đoàn

... Riêng những trang giấy bôi lọ, xuyên tạc, vu khống, bươi móc đống rác góc nhà người khác, chả ai buồn quan tâm, trước nhất người viết đã mang một gương mặt soi móc bẩn thiểu không đúng thiên chức của một người cầm bút, gây một ấn tượng khi nhắc đến tên Đặng Văn Nhâm, người ta liên tưởng đến một khuôn mặt những phần tử bắt cóc tống tiền trong xã hội đen, những đường gân ngang dọc trên khuôn mặt khuất lấp ánh mắt cú vọ thể hiện từ bản chất bất lương tri thức. Rất tiếc, Thượng đế đã sản sanh ra những con người như vậy! Suốt thời gian dài, với tâm hận thù, họ Đặng liên tục bôi bẩn tu sĩ Phật giáo như kẻ múa gậy vườn hoang, cứ nghĩ không ai đủ bản lãnh chống lại ngòi bút của Đặng Văn Nhâm, vì thế ông ta xem như việc làm của mình là một thách thức Phật giáo, nhưng Đặng Văn Nhâm quên rằng nhục mạ Phật giáo như đấm vào hư không, chả ai cần đếm xỉa… Ngựa quen đường cũ, cứ ngỡ ai cũng gục đầu để cho Nhâm chưởi, thực ra nhân quả công bằng, chuyện làm của Nhâm chỉ đáng để một người đàn bà lên tiếng, và một khi lên tiếng của đàn bà được công lý thừa nhận, giá trị và nhân cách của người cầm bút như Đặng Văn Nhâm không đủ can đảm trực diện trước công lý, hào khí hiên ngang của đấng mày râu bấy giờ thua cơn thịnh nộ của một người đàn bà; Đặng văn Nhâm im hơi lặng tiếng khi toà án Hạt Harris tuyên phạt  620.000 USD về tội vu khống nhục mạ người đàn bà. Thế mới biết con người họ Đặng, uy tín danh dự và khả năng cầm bút của Đặng Văn Nhâm không bằng tiếng ho khẻ của người đàn bà tên Trương Thùy Trúc. Bồi thường danh dự cho cô Trúc 100.000 USD có nghĩa Đặng Văn Nhâm tự đánh mất giá trị của mình bằng số tiền như thế. Nếu đây là quả báo nhục mạ, cũng chưa đủ cho Nhâm một bài học nhớ đời, vì kẻ thiếu liêm sĩ thì số tiền truy phạt như thế chưa đủ sức nặng làm tỉnh giác một tâm hồn đen tối và thù hận…

Phải chăng Đặng Văn Nhâm là một khuôn mặt tiêu biểu chống phá Phật giáo dưới dạng rẻ tiền nhất giữa những trào lưu chống phá Phật giáo thâm sâu tinh tế nhất? Việc làm bấy lâu của Đặng Văn Nhâm có giá trị hay sự phản kháng của người đàn bà có giá trị? Nghĩa là danh dự, uy tín và tài năng của Đặng Văn Nhâm không xứng với cơn phẫn nộ của một người phụ nữ như Trương Thùy Trúc, đó là một nhà Văn???

 

      MINH MẪN

      03/8/2007

 

          Mười hai căn bệnh khiến con người khó có thể gặp được Phật: Không tôn kính cha mẹ là bệnh thứ nhất. Ngu si tạo nghiệp ác là hai bệnh. Gian xảo điêu ngoa là ba bệnh. Lời nói hại người là bệnh thứ tư. Hay tìm lỗi người là bệnh thứ năm. Giết hại chúng sinh là căn bệnh thứ sáu. Không biết hổ thẹn là bệnh thứ bảy. Ham mê sắc dục là bệnh thứ tám. Kiêu ngạo khinh người đó là chín bệnh. Phạm tội không hối cải là bệnh thứ mười. Khen mình chê người là bệnh thứ mười một. Không biết lợi hại là bệnh thứ mười hai.

BÀI HỌC CAO THƯỢNG

Tỳ kheo Thích Chân Tuệ

 

Trên thế gian nầy, ngoại trừ các bậc hiền thánh, những bậc quên mình vì người, không ai không nghĩ đến và thương yêu chính bản thân mình. Cuộc sống này có những kẻ vì quá thương yêu chính bản thân mình mà âm mưu hãm hại người khác để xây dựng hạnh phúc riêng tư.

Con người thường lo cho hạnh phúc của mình, rồi mới nghĩ đến hạnh phúc của kẻ khác. Nhiều kẻ bên ngoài có vẻ như lo cho hạnh phúc của vợ, chồng, con, cháu, lo cho quốc gia đại sự, lo cho quê hương đất nước, lo cho lý tưởng tối thượng, .v.v... song, bên trong thực sự họ chỉ lo cho lợi ích của riêng bản thân. Ðây là một sự thật có thể nhận thấy một cách dễ dàng.

Chúng sanh thường cố chấp bản ngã. Nói cách khác, vì cố chấp bản ngã cho nên mới thành chúng sanh.  Tuy nhiên, chúng ta có thể thương yêu bản thân mình, gia đình mình, xã hội mình nếu sự thương yêu nầy không tổn hại cá nhân, gia đình, xã hội người khác.

Bởi có nhiều người trên thế gian vì thương yêu bản thân mình, gia đình mình, xã hội mình mà làm hại cá nhân, gia đình, xã hội người khác, cho nên Đức Phật dạy: "Con người phải xem sự sống và quyền sống của người khác ngang với sự sống và quyền sống của mình". Bởi vì tất cả chúng sanh là bình đẳng, cho nên Phật mới khuyên: "Yêu mình thì chớ hại người". Hại người có thể bằng hành động phi nhân, bằng lời nói vu khống, cáo gian, chụp mũ, xuyên tạc, hoặc bằng ý nghĩ, nghĩ xấu về người khác mà thực sự mình chưa biết rõ, hay chỉ nghe tin đồn.

Ðạo lý "Yêu mình thì chớ hại người" rất là hợp tình hợp lý trong mọi xã hội, không có gì khiến chúng ta không thể thực hành được. Chúng ta muốn sống an vui, thì cần nên tôn trọng sự an vui của người khác. Rất là đơn giản và dễ thương biết bao nhiêu!

Trong kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy:

Làm tổn hại sanh linh

Đâu phải là hiền thánh
Không hại mọi chúng sanh
Mới xứng danh hiền thánh

(Pháp cú 270)

Cầu mong mọi người Việt chúng ta, dù ở bất cứ nơi nào trên trái đất, xin hãy mở lòng thương yêu chính mình, cũng như mọi người Việt khác, trước khi nói đến thương yêu nhân loại, cầu cho thế giới hòa bình, chúng sanh an lạc!

 

Thích-Chân-Tuệ ( http://www.cosophathoctinhquangcanada.org/ )

Hoang & Associates

Attorneys & Counselor At Law

1900 N. Loop West, Suite 500  - Houston, Texas 77018

Tel.: 713-600-3700 · Fax: 713-600-3705 Email: Law500inc@yahoo.com

 

Ngày 12 tháng 9 năm 2007.

 

Về việc phán quyết chung thẩm vụ án “2006-71920”, tòa án 165 ở Hạt Harris Texas tuyên án nhà văn Đặng Văn Nhâm viết sách Giặc Thầy Chùa III mạ lỵ người khác và ngăn cấm không cho sách này được lưu hành nữa.

 

Kính gởi quý vị lãnh đạo tinh thần, quý vị lãnh đạo các tổ chức đấu tranh, quý cơ quan truyền thông báo chí, quý nhà sách nhà báo, quý vị trưởng thượng, quý thiện nam tín nữ, và toàn thể quý bạn trẻ:

 

Ngày 4 tháng 5 năm 2007, văn phòng chúng tôi công bố về phán quyết của vụ án này, ông Đặng Văn Nhâm thuê Tổ Hợp Luật Sư Wesley Coddou đại diện cho ông nộp đơn lên tòa 165: 1/ Xin xét xử thẩm quyền của Tòa (Special Appearance); và 2/ Nếu tòa xét có thẩm quyền thì xin tòa cho mở lại hồ sơ xét xử lại (set aside the Default Judgment).

Ông luật sư Wesley Coddou ra tòa và ngày 26/7/2007, văn phòng chúng tôi không hiện diện, tòa ký Lệnh Bãi Nại (Dismissal Order).  Nhận được Lệnh Bãi Nại này, văn phòng chúng tôi nộp hơ sơ xin tòa hủy bỏ lệnh đó vì văn phòng của chúng tôi chưa hề nhận được giấy Thông Báo Buổi Điều Trần (Notice of Hearing) của luật sư Coddou.

Ngày 27/08/2007, buổi điều trần được diễn ra, trong buổi điều trần chúng tôi chất vấn luật sư Wesley Coddou nói đã gởi Thông Báo Buổi Điều Trần cho văn phòng chúng tôi thì gởi hồi nào và bằng chứng ở đâu.  Luật sư Wesley Coddou nói đã gởi Thông Báo vào ngày 12/7/07 qua điện thư (facsimile).  Chúng tôi hỏi giấy xác nhận (confirmation) của điện thư thì ông trả lời ông không có.  Chúng tôi lập luận trước tòa rõ ràng đây là chiêu thức của văn phòng luật sư Coddou để đạt được Lệnh Bãi Nại.  Chánh án Elizabeth Ray ngay lập tức ký Lệnh Hủy Bỏ Lệnh Bãi Nại.  Đính kèm là Lệnh Hủy Bỏ Lệnh Bãi Nại có chữ ký của chánh án, của chúng tôi, và ngay cả chữ ký của luật sư Wesley Coddou.

Như thế, Án Lệnh ngày 16/2/2007 vẫn còn hiệu lực. Án lệnh đó như sau: Ông Nhâm phải đền bồi thiệt hại vật chất $25,000, thiệt hại danh dự $100, phạt làm gương $500,000, và cấm không cho lưu hành quyển sách Giặc Thầy Chùa III nữa và nếu ai tiếp tục phân phát quyển Giặc Thầy Chùa III thì người ấy sẽ bị tội đồng lõa và sẽ chịu chung trách nhiệm tội phỉ báng giống như ông Đặng Văn Nhâm.

Xin nhắc lại đây là vụ án của một nữ phật tử, cô Trương Thùy Trúc, tố ông Đặng Văn Nhâm phỉ báng tiết hạnh của cô vì cô đi mổ bướu trong bụng (có hồ sơ y lý) mà ông Nhâm dựng chuyện nói là đi phá thai. Vụ án của cô Trương Thùy Trúc ở tòa 165 của quận hạt Harris, số “2006-71920”.  Long Hoa Phật Nhị Hội còn nộp một hồ sơ khác truy tố ông Đặng Văn Nhâm, vụ án mang ký hiệu The Buddhist Church of the Second Long Hoa Assembly aka Long Hoa Phat Nhi Hoi vs. Nham Van Dang, cause no. “2006-71977” in the 190th Judicial District Court of Harris County Texas.  Long Hoa Phật Nhị Hội tố ông Đặng Văn Nhâm tội mạ lỵ vì dám dựng chuyện nói Giáo Hội này “một là của Cộng Sản hai là của băng nhóm sát nhân” mà trong thực tế Giáo Hội này bị chính Cộng Sản Việt Nam đàn áp, bị tịch thu tài sản, và những việc làm của Long Hoa Phật Nhị Hội ngay tại địa phương được cơ quan cảnh sát của Houston ca ngợi đóng góp nhiều ích lợi cho xã hội.  Hai vụ án khác nhau và ở hai tòa khác nhau, và tôi là luật sư thụ lý cả hai vụ kiện.

Trở lại việc tòa xử khiếm diện ông Đặng Văn Nhâm vào tháng 2 năm 2007.  Khi ấy, ông Đặng Văn Nhâm có thuê luật sư Anne Osbak ở Coppenhagen nước Đan Mạch đại diện cho ông. Luật sư Anne Osbak nghĩ rằng tòa án Texas không có thẩm quyền xét xử ông Nhâm. Chúng tôi trả lời bà Osbak là tòa Texas có quyền xử ông Nhâm vì ông Nhâm đã đến tận Texas để “điều tra” các sự kiện và ông đã đăng tất cả chuyện này trên quyển Giặc Thày Chùa III.  Như vậy, Texas là hiện trường (alibi).  Texas còn có thẩm quyền xử ông Nhâm vì sách của ông được bày bán tại Houston.  Chúng tôi khuyên bà Anne Osbak hãy mau kiếm một luật sư ở Texas để trả lời tại tòa kẻo không ông Nhâm sẽ bị xử khiếm diện (default judgment).  Bà Osbak đồng ý đi tìm một luật sư ở Houston, nghe đâu lúc đầu luật sư Ngô Quốc Lân nhận giúp ông Nhâm vụ này, nhưng cuối cùng không ai trả lời tại tòa án.

Văn phòng chúng tôi thông báo cho luật sư Anne Osbak ngày giờ và địa điểm tòa xử khiếm diện, bà thông báo lại cho chúng tôi biết bà không liên lạc được với ông Đặng Văn Nhâm. Theo bà, ông Nhâm nói ông đi du lịch hay đi nghỉ hè!! 

Ngay khi tòa ký Bản Án Chung Thẩm, văn phòng chúng tôi thông báo đến luật sư Anne Osbak.  Sau này chúng tôi còn gởi nguyên bản đến văn phòng luật sư Anne Osbak, bà liền viết thư trả lời nói bà không đại diện cho ông Nhâm nữa, xin hãy trao án lệnh trực tiếp cho ông Nhâm.  Nhận lá thư này, ngày 8/5/2007, văn phòng chúng tôi gởi án lệnh đến ông Nhâm. Thủ tục tòa án đó là 30 ngày sau khi tòa ký án lệnh thì mới có hiệu lực.  Lúc ấy ông Nhâm đã có tổ hợp luật sư Osbak thì tất cả thông báo chúng tôi chỉ cần gởi đến tổ hợp luật sư đó chớ không phải gởi đến ông Nhâm nên án lệnh đã có hiệu lực, và chúng tôi tin chắc nay mai trong buổi điều trần án lệnh này là chung thẩm. Trong lúc đó, trát tòa vụ án của Long Hoa Phật Nhị Hội đến nhà ông Nhâm, ông Nhâm không nhận.  (Sau này Luật sư Anne Osbak gởi thư cho văn phòng chúng tôi cho biết chính bà yêu cầu ông Nhâm đừng nhận những văn thư xuất phát từ văn phòng của tôi, của tòa án hoặc của Bộ Ngoại Giao của Texas vì bà tin rằng không nhận trát thì không phải trả lời.)

Tôi phải bay qua Đan Mạch, hối thúc tổ hợp trao trát ở Đan Mạch phối hợp tổ hợp trao trát ở Mỹ để trát trao tận tay ông Nhâm một cách có hiệu lực. Tổ Hợp Trao Trát (độc lập với tòa án và văn phòng của chúng tôi) đã phải lấy địa chỉ hộp thư của phật tử Thiện Quang ở Houston gởi cho ông Nhâm. Thiện Quang là người quen thân của ông Nhâm đã chở ông Nhâm tới chùa để “điều tra” về Long Hoa Phật Nhị Hội.

Ông Nhâm ký nhận vì ông tưởng đó là của Thiện Quang nhưng thật ra đó là của công ty trao trát tòa.  Thư ông ký nhận gởi trả lại cho Thiện Quang (thật sự là công ty trao trát tòa) tỏ rõ ông không hiểu gì về luật pháp mà ông đã vội kết án: “Anh nhận được thư bảo đảm của Thiện Quang. Trong đó chỉ vỏn vẹn có độc nhất bản Plaintiff's Original Petition ngày 12/4/07 của Giáo phái Long Hoa tại Houston. Đây có lẽ là thói quen ám muội, chơi trò ném đá giấu tay của nhóm người này, thường nhắm mục đích hù dọa và khủng bố tinh thần các đệ tử nào xem ra có vẻ chống đối việc làm mờ ám của họ.”  Chắc bây giờ ông Nhâm hiểu rõ nguyên do tại sao lá thư ông gởi cho Thiện Quang mà không bao giờ thấy sự hồi báo là vậy.

Mới đây ông Đặng Văn Nhâm lập một trang mạng lưới www.dangvannham.com  đưa tin ông đã thắng kiện vẻ vang vì tòa 165 đã ký Lệnh Bãi Nại.  Ông còn viết nhiều điều cho thấy một là ông không hiểu gì về luật pháp Hoa Kỳ, hai là ông giận quá mất khôn nên viết ẩu.  Chính vì hành vi này, văn phòng chúng tôi có nộp một Đơn Xin Phạt (Motion For Sanction) ông Đặng Văn Nhâm vì đã đưa lên mạng Lệnh Bãi Nại mà ông biết rằng lệnh này đã bị Tòa ra lệnh hủy bỏ vào ngày 27/8/07.  Nếu ai có thắc mắc, xin quý vị đến tòa 165 ở địa chỉ 201 Caroline, Houston TX  77002 vào ngày 8 tháng 10 năm 2007 lúc 10 giờ sáng.  Ngày hôm ấy tòa cũng xử luôn Thẩm Quyền của Tòa (Special Appearance) và nếu Tòa có thẩm quyền thì có nên cho mở lại hồ sơ xét xử (Set Aside the Default Judgment) hay không. Nếu tòa phán quyết Tòa có thẩm quyền và tòa thấy Lệnh Xử Khiếm Diện đúng thủ tục luật pháp thì coi như án lệnh ngày 16/2/2007 là chung thẩm.

Bên phía vụ án của Long Hoa Phật Nhị Hội, luật sư Wesley Coddou đã nộp hồ sơ xin tòa xét thẩm quyền xét xử (special appearance) của tòa án và văn phòng chúng tôi đã nộp hồ sơ trả lời.  Ngày 19/10/2007, lúc 11 giờ, tòa 190th sẽ có buổi điều trần để xét xử vấn đề này, chúng tôi mong những ai quan tâm đến tham dự để biết rõ sự kiện và kết quả.

Xin nhắc quý vị rõ đó là hiện nay văn phòng chúng tôi mới đại diện cho nữ phật tử Trương Thùy Trúc và Long Hoa Phật Nhị Hội chớ không phải toàn thể Giáo Hội Phật Giáo hay các vị tăng sĩ trong 3 quyển Giặc Thày Chùa mà ông Đặng Văn Nhâm là tác giả.  Tuy nhiên, chỉ riêng vụ cô Trương Thùy Trúc đi mổ bướu, có hồ sơ y lý đàng hoàng, mà ông Đặng Văn Nhâm còn dám hạ bút phóng thành chuyện đi phá thai thì huống hồ gì những chuyện khác đối với Giáo Hội Phật Giáo. Đạo nào cũng có người tốt kẻ xấu, không thể quy chụp cách tổng quát, viết tựa đề tác phẩm “Giặc Thày Chùa” làm người đọc dễ ngộ nhận tất cả các chùa chiền và các vị tăng là những tên giặc tồi bại. Đây là nguyên do chính yếu tại sao văn phòng chúng tôi thụ lý hồ sơ vụ kiện với tâm nguyện không để cho những người chỉ vì một chút danh hão hoặc vì muốn tạo một chấn động để bán chạy sách mà làm tổn thương đến Giáo Hội Phật Giáo nói chung, Long Hoa Phật Nhị Hội và nữ phật tử Trương Thùy Trúc nói riêng.  Tôi (luật sư Hoàng Duy  Hùng) là một tín đồ Thiên Chúa Giáo thì tôi hy vọng ở cương vị này việc làm của tôi sẽ khách quan hơn.

Để quý vị tiện theo dõi, chúng tôi xin đính kèm lá thư ngày 4/5/2007.

Xin chân thành cám ơn quý vị về sự lưu tâm này.  Nếu quý vị có thắc mắc, quý vị liên lạc với văn phòng chúng tôi và chúng tôi sẽ vui lòng giải đáp.  Những bài viết có tính cách chưởi đổng hoặc thóa mạ thì chúng tôi miễn trả lời.

Trân trọng,

_______________

Hoàng Duy Hùng,

Luật sư của nguyên đơn Trương Thùy Trúc và Giáo Hội Long Hoa Phật Nhị Hội.

==========================

======================================

 

..

www.lebichson.org xin chân thành tri ân các tác giả, dịch giả có bài viết đăng tải trên trang nhà nhằm phổ biến Đạo Phật đến với mọi người! Kính chúc quý vị luôn được an bình - thịnh vượng - sức khoẻ & thành công! With best regards and profound gratitude to distinguished writers and translators who have their excerpts posted in this homepage for the purpose of disseminating the Buddha’s teachings!  Wish your life is filled with peace, prosperity, contentment and success!

Phật giáo nhập môn     Phật giáo và xã hội     Phật giáo và văn hoá     Phật giáo và giáo dục     Phật giáo quốc tế    

Phật giáo sử - truyện     PG và vấn đề tái sanh     Thơ ca Phật giáo     Âm nhạc Phật giáo     Tin tức Phật giáo

Gia Đình Phật Tử       Mẹ và Quê hương     Di tích& văn hoá đất võ     Bình Định: Đất & Người     Thơ ca Bình Định

Bài mới đăng tải     Nối vòng tay lớn     Thông báo     Linh tinh        Pháp Âm        Hình ảnh

Trang chủ     English     Liên lạc     Trang chủ

 

www.lebichson.org

Thành lập

ngày 10 tháng 9 năm 2003

Hit Counter

(This homepage is best viewed with a screen size of  1024 x 768 pixels

Trang nhà hiển thị tốt nhất với chế độ màn hình 1024 x 768 pixels)