TRANG CHỦ

www.lebichson.org

TRANG CHỦ

  ĐẠO PHẬT CON ĐƯỜNG HƯỚNG ĐẾN GIẢI THOÁT GIÁC NGỘ - NHỚ VỀ QUÊ HƯƠNG VIỆT NAM THÂN YÊU, NƠI ĐÃ CHO TA NIỀM HẠNH PHÚC LẪN KHỔ ĐAU - THÀNH KÍNH TRI ÂN MẸ CHA, NHỮNG NGƯỜI ĐÃ CHO CON TRÁI TIM VÀ HÌNH HÀI ĐỂ CON ĐI VÀO CUỘC SỐNG!

..

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TÌM DẤU CHÂN XƯA

phần 6
 Discover and Walk in the footsteps of the Great One
 

 Lê Bích Sơn

 

Phần giới thiệu và lời mở đầu

Phần 1    Ngày 1 tháng 8 năm 2000
 Phần 2.   Ngày 2 tháng 8 năm 2000
 
Phần 3.   Ngày 3 tháng 8 năm 2000
 Phần 4.   Ngày 4 tháng 8 năm 2000
 Phần 5.   Ngày 5 tháng 8 năm 2000
 Phần 6.   Ngày 6 tháng 8 năm 2000
 Phần 7.   Ngày 7 tháng 8 năm 2000
 Phần 8.   Ngày 8 tháng 8 năm 2000
 
Phần 9.   Ngày 9 tháng 8 năm 2000

 

 

Ngày 06 tháng 08 năm 2000

 

5 giờ sáng, tôi đã chuẩn bị xong những vật dụng cần thiết cho chuyến đi lên Na Lan Ðà. 6 giờ, hai chú cháu tôi điểm tâm sớm, rồi lại ra tháp Ðại Giác tụng thời kinh. Hôm ấy, hai thầy Quảng Trí và Thông Lý cũng ra tháp lạy Phật sớm, hai chú cháu tôi mời hai thầy cùng đi. Bốn người đều nhất trí thực hiện theo phương án chú cháu tôi đề ra. Tuy nhiên, chúng tôi lại gặp phải trở ngại trong việc thuê xe đi Na Lan Ðà: Trong mắt của những anh chàng tài xế vùng này, chúng tôi -những người ngoại quốc- là những con mồi hết sức béo bở, thay vì như tôi được biết giá thuê mỗi chiếc xe (5 người) cho tuyến đường ấy cao nhất là 450Rs, thì các chàng này dưới sự quản lý của một tay trùm nào đó đều nhất loạt "1200Rs only, Sir" (chỉ 1200 Rubi thôi, thưa ông)... Vâng, họ đã lầm! Chúng tôi quyết định dời chuyến đi vào một dịp khác, quyết định này một phần xuất phát từ túi tiền hạn hẹp của sinh viên, phần khác để họ -những anh tài xế ở Bodhgayā- biết rằng "người Việt không phải là những người dễ dàng chui vào tròng, đưa cổ cho họ cứa", và những lần sau nên đối xử "tử tế" hơn với người Việt Nam.

Thầy Quảng Trí trở lại Ðại tháp, thầy Thông Lý về Việt Nam Phật Quốc Tự, hai chú cháu tôi quyết định qua ngôi làng nàng Su Dà Ta (Sujata) lịch sử. Có hai cách để đến được làng nàng Su Dà Ta: thuê xe đi vòng qua một chiếc cầu (chiều dài khoảng 1000 mét) cách tháp Ðại Giác khoảng chừng 2 cây số, rồi đi ngược lên khoảng 2 cây số nữa; cách thứ hai là lội bộ qua con sông Ni Liên Thiền vào những mùa nước cạn. Ban đầu tôi chọn phương cách thứ nhất, vì từ ngày sang Ấn Ðộ bệnh thấp khớp của tôi tái phát, những ngày ở Bồ Ðề Ðạo Tràng chân tôi dường như không còn nhấc lên nổi sau những lần "cố hết sức" vừa đi vừa chạy theo đôi chân "Thần Hành Thái Bảo" của Sư thúc, nhưng cuối cùng tôi phải đồng ý cách thứ hai mà Sư thúc lý luận nghe hữu lý. Hơn nữa, khi còn đang tiến hành thủ tục xuất cảnh ở Việt Nam, tôi ao ước rằng: đến một ngày nào đó, tôi sẽ đến Bồ Ðề Ðạo Tràng bằng xương bằng thịt, để được tận mắt chiêm ngưỡng, tận tay nhặt những chiếc lá từ "Bồ Ðề Linh thọ"- nơi mà vào một đêm năm 528 trước công nguyên- bậc vương giả Tất Ðạt Ða đã trở thành "Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni lịch sử", đến Bodhgayā để được lội qua những dòng nước mát của Ni Liên. Tất cả những ước nguyện ấy, giờ đây đã trở thành sự thật!

Sông Ni liên Thiền nằm ở phía nam cách tháp Ðại Giác chừng 250 mét, ngày nay người ta gọi sông này là sông Lilajan, theo một số tài liệu cho rằng trong các bản văn cổ Pāli con sông này có nhiều tên gọi khác nhau: Verạna, Neranja, Nerangara...(Nairanjana, Niranjana là tiếng Sanskrit, dịch là Ni Liên Thiền). Ðoạn sông Ni Liên Thiền từ Ðại tháp qua đến làng nàng Su Dà Ta có bề rộng khoảng 1000 mét, khi chúng tôi lội qua con sông này nước dưới sông gần như khô cạn, chỗ nước sâu nhất cũng chỉ tới đầu gối. Trời nắng, tôi vừa lội vừa nhìn xuống chân, cát trắng lấp lánh như những ánh vàng, trông rất đẹp. Lâu lắm rồi tôi mới có dịp được lội sông như thế này, lội qua những dòng nước mát trong vắt. Nhớ hồi còn nhỏ, nhà tôi cách con sông Hà Thanh khoảng 1500 mét, tôi không biết vì sao người ta đặt tên nó là Hà Thanh, nhưng nước của con sông trong lắm, cát dưới sông cũng trắng tinh. Trường học của tôi nằm bên cạnh một ngôi chùa uy nghiêm cổ kính, con sông chỉ cách lớp học vài chục mét. Những ngày cô giáo không đến lớp, tôi cùng chúng bạn rủ nhau lội ngang qua con sông, vừa đi vừa lấy mũ vớt mấy con cá nhỏ xíu, vui lắm! Rồi không hiểu vì sao, cô giáo lại cấm không cho chúng tôi lội qua con sông ấy nữa, đứa nào lội Cô bắt được sẽ đánh đòn 20 roi rồi đuổi học; Và vào những giờ Kể chuyện, thay vì những câu chuyện thần tiên, Cô lại kể chuyện về những con ma Da, những mụ phù thủy đang chờ chúng tôi dưới nước. Mấy tháng sau, một đứa bạn trong lớp tôi chết ngộp một lần theo mẹ ra mương giặt áo, chúng tôi tin rằng có một loài ma sống dưới nước. Tôi không lội qua con sông Hà Thanh nữa, nhưng với tôi con sông Hà Thanh đẹp lắm! 12 tuổi xuất gia, bên cạnh chùa là con sông tôi không biết tên, tôi đặt tên cho nó là "sông Thượng", vì nó bắt nguồn từ một nhánh sông lớn chảy về những cánh đồng rồi đổ ra biển. Nước dòng sông Thượng chảy êm đềm nhưng không trong lắm, vì có một đàn vịt cả mấy ngàn con "đóng quân" dài hạn ở đó. Sông Thượng gắn bó với tôi trong nhiều kỷ niệm đẹp, nhưng tôi chưa bao giờ lội qua dòng sông ấy một lần. Lớn lên tôi vào Sài gòn tiếp tục con đường học vấn, những dòng nước đen xì ở kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè làm tôi nghẹt thở. Tôi bắt đầu chiêm nghiệm về cuộc đời, rồi ví con sông Hà Thanh như cái tuổi thơ chưa vướng bụi đời, trong sáng quá! Lội giữa dòng Ni Liên Thiền lòng tôi lại bất chợt nhớ về con sông Hà Thanh trong vắt ngày xưa, một cảm giác vui vui, tôi chợt mỉm cười. Quay lại nhìn về hướng tháp Ðại Giác một chút, tôi lại ngớ ngẩn hỏi Sư thúc đang lội bên cạnh: "Ðức Phật ném cái bát chỗ nào hả Thúc ?", Sư thúc chỉ mỉm cười. Lội đến hai phần ba con sông, hai chú cháu tôi thay nhau chụp mỗi người một tấm ảnh kỷ niệm. Cách chúng tôi một khoảng, vài đứa bé trai tuổi chừng hơn mười tuổi đang đắp những tòa lâu đài bằng cát. Vài giây ngần ngại, một đứa trong chúng hỏi tôi có cần "Guide" (hướng dẫn) không và "tự nguyện" theo chúng tôi từ đó đến khi chúng tôi trở lại bên này sông. Thật ra những chú bé này đi xin tiền, dịch vụ "hướng dẫn" chỉ là cách để bám theo du khách hành hương, vì hầu hết dân chúng vùng này khá nghèo, những đứa trẻ thuộc những gia đình quá nghèo không được đến trường lớp, chúng phải "bươn chải" vào "nghề hướng dẫn" với vài từ tiếng Anh nghe lỏm ở đâu đó, nguồn sống chính của chúng là những đồng tiền bố thí của khách hành hương.

Ngay bên bờ sông người ta dựng một bệ thờ với hai bức tượng: Sa môn Cồ Ðàm và ông già dâng bó cỏ Cát Tường (Kusa), nét tượng không mấy "mỹ thuật" lắm, nghe rằng ban đầu một số vị sư Miến Ðiện dựng tượng nơi này kỷ niệm, nhưng sau thấy nơi này khách hành hương thường tới, một số các chàng theo đạo Hindu "thức thời" bèn lập thành bàn thờ, đặt thùng "công đức" (Donation Box) rồi dụ khách hành hương. Khi chúng tôi đến, anh chàng Hindu "marketing" (tiếp thị, chào hàng) bảo chúng tôi lạy và bỏ tiền vào thùng, hai chú cháu tôi chỉ mỉm cười, nhưng rồi cũng bỏ vài Rubi vào thùng (vì ít ra họ cũng là người giữ gìn nơi đó sạch sẽ). Cách nơi đặt hai bức tượng vài mét, là một đền thờ Hindu và một cái giếng công cộng, muốn mượn gàu xách nước rửa chân phải trả ít nhất 1Rs, ở trong khu làng nàng Su Dà Ta đủ thứ dịch vụ hái tiền rất dễ dàng. Một nhóm khoảng 30 trẻ em ăn xin vây quanh chúng tôi, đủ thứ lời lẽ và cử chỉ, kể cả vài người lớn tuổi cũng van xin nghe rất thảm não, tôi định gởi mỗi người 1Rs, nhưng Sư thúc truyền ngay "kinh nghiệm" muốn "mở rộng lòng từ" thì nên đợi lúc ra về, nếu không sẽ gặp phải trở ngại lớn, tôi đành thôi. Bọn trẻ ăn xin bám theo chúng tôi như một đoàn quân hộ tống. Một đứa bé nói được tiếng Anh, "chỉ điểm" với tôi: "Cái thằng cao cao đi trước kia là chuyên nghiệp móc túi, ăn cắp đấy.", trong bang của "thằng cao cao" có đứa hiểu tiếng Anh dịch lại với nó, thế là "thằng cao cao" dọa sẽ "thanh toán tên chỉ điểm" nọ. Càng vô sâu, những người ăn xin càng nhiều, lúc đầu "hộ tống" chú cháu chúng tôi chỉ khoảng 20 trẻ em, sau lên đến gần 40 (có cả trung niên, người già), đi đâu tôi cũng gặp phải những bàn tay chìa ra. Thế rồi, cuối cùng tôi cũng đến được nơi nàng Su Dà Ta dâng bát cháo sữa năm xưa (nơi đó người ta gọi là Sujatakuti). Ðể vào đến đền Sujatakuti, phải đi ngang qua một cái đền thờ Hindu khá lớn án ngữ trước mặt, nếu không tinh ý khách hành hương sẽ "sa lưới" nào nơi đang trưng bày một số tượng Brahma bốn mặt, Vishnu, Shiva, Hanuman. Sau cái đền thờ Hindu kia người ta cho xây một cái miếu nhỏ 2 mét vuông, bên trong dựng những bức tượng miêu tả lại cảnh nàng Su Dà Ta dâng lên Samôn Cồ Ðàm bát cháo sữa. Có một điều mà vài Phật tử hành hương không thể ngờ được là: Các anh chàng Hindu đã cố ý đặt tượng một con bò trắng mập mạp trước những bức tượng kia, con bò trắng kia không gì khác hơn ngoài ý nghĩa tôn thờ con bò mộng Nandi (vật cỡi của thần Shiva). Một cái thùng "kêu gọi" lớn hơn những bức tượng đặt phía trước, bên trên là một cuốn "Sổ Phát tâm" khổ A3 nhắc nhở mọi người (cũng của các chàng Hindu thôi). Chú cháu tôi ngồi dưới một bóng cây bên cái miếu nhỏ, một anh chàng người Nhật cũng đang ngồi thu mình im lặng trước sự tấn công của tập đoàn "cái bang". Nửa giờ đồng hồ sau, đoàn phật tử Tích Lan cũng đến nơi chúng tôi đang ngồi, khác với những lần trước, tất cả họ đều mặc thường phục. Tôi nảy ra ý định chụp vài tấm "ảnh tư liệu" về "tập đoàn hành khất vị thành niên" ở làng nàng Su Dà Ta, nhưng dường như chúng rất sợ trước việc phải để lại gương mặt của mình trên tấm ảnh, vì thế chỉ có vài đứa trẻ tham gia đứng trước ống kính, một số lấy tay che mặt. Hai chú cháu tôi cùng đoàn phật tử Tích Lan rời khỏi làng nàng Su Dà Ta trong những tiếng khóc than não nề của những người "ăn xin bán chuyên nghiệp", ông già quét ngôi miếu theo tôi đến đầu làng vừa khóc than vừa lạy lục van xin, tôi vờ làm động tác bắt tay và tất nhiên là có kèm theo đó 20Rs. Giã từ ngôi làng nàng Su Dà Ta có những mái nhà tranh đơn sơ, tôi mang theo hình ảnh và tiếng khóc của ông lão quét miếu! Chú cháu tôi định đến thềm ngôi nhà của Ba anh em Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp (Uruvela Kassapa), nhưng hôm ấy con mương chận ngang bị lầy lội, hai chú cháu đành rút lui...

Trời trưa, nước sông khá nóng, chú cháu tôi đón một chiếc máy cày quá giang qua bên kia sông. Ðến bên kia cầu, dù rằng đã trưa người đói và mệt, nhưng tôi lại quyết định vào thăm chùa Miến Ðiện. Chùa Miến Ðiện nằm cách tháp Ðại Giác một cây số về hướng Ðông- bắc, ngay phía bên này cây cầu bắc ngang qua sông Ni Liên Thiền. Theo một số tư liệu thì chùa này được xây dựng khá sớm so với chùa các nước khác tại khu vực Bồ Ðề Ðạo Tràng: Chùa được xây dựng vào năm 1874 dưới sự bảo trợ của vua Mundoon Myin. Trụ trì hiện nay là ngài Nyanainda Mahathera[1] (người Hoa phiên âm gọi là ngài Nhược Ninh Ðạt). Chùa Miến Ðiện cũng đang trong thời kỳ sửa chữa- nới rộng, thợ thi công xây cất cũng khá nhiều, nền gỗ chánh điện vừa làm xong nhưng nhiều chỗ đã phồng lên vì trời nắng. Ở cổng vào của chùa, có một văn phòng để khách hành hương liên hệ đăng ký trú ngụ, bên cạnh là một dãy nhà khách khoảng 30 phòng. Một bản thông báo bằng tiếng Anh dựng ngay bên nhà khách, lưu ý với những khách hành hương muốn trú ngụ ở đó phải giữ gìn ngũ giới [2]. 12 giờ trưa, hai chú cháu tôi lại cuốc bộ về Chùa Ðài Loan... Chiều hôm ấy, lại ra tháp lễ Phật, lại gặp đoàn Phật tử Tích Lan tụng kinh và nghe Pháp. Vị sư người Tích Lan ở cùng nhà mời chúng tôi cùng đoàn đi núi Linh Thứu, Trúc Lâm và Na Lan Ðà vào ngày hôm sau, nhưng lúc ấy chú cháu tôi đã lỡ hứa với vị sư người Thái mời chúng tôi dự bữa cơm trưa hôm sau, đành thôi...Ðến tối, lại những bình trà Ô Long, thầy Phát lại tiếp tục những nỗi niềm của mình, lại một đêm gần như thức trắng. Những ngày đến Bồ Ðề Ðạo Tràng, không đêm nào thầy không tâm sự với chúng tôi, không đêm nào câu chuyện kết thúc trước 11 giờ đêm...

 

Chú thích

1. Ngài Nyanainda Mahathera là vị Tôn chứng A xà lê Ðại giới đàn Quốc tế , tổ chức tại Bồ Ðề Ðạo Tràng năm 1998. (Most Ven. Nyanainda Mahathera is a Witnessing Acarrya of Bodhgayā International Full Ordination 1998).

2. Bảng thông báo lưu ý với những khách hành hương trú ngụ tại chùa bằng tiếng Anh (và tạm dịch sang Việt ngữ) như sau:

Abstain from killing (tránh sát sanh).

Abstain from stealing (tránh trộm cắp). 

Abstain from sexual misconduct (tránh tà dâm). 

Abstain from lying (tránh vọng ngữ).

Abstain from intoxicants (no drugs or alcohol)( Tránh uống rượu).

 

Xem tiếp phần 7: Ngày 7 tháng 8 năm 2000 (xin click vào đây) 

 

 

 

 

..

 

 

 

 

 

Phật giáo nhập môn     Phật giáo và xã hội     Phật giáo và văn hoá     Phật giáo và giáo dục     Phật giáo quốc tế    

Phật giáo sử - truyện     PG và vấn đề tái sanh     Thơ ca Phật giáo     Âm nhạc Phật giáo     Tin tức Phật giáo

Gia Đình Phật Tử   Mẹ và Quê hương     Di tích & văn hoá đất võ     Bình Định: Đất & Người     Thơ ca Bình Định

Bài mới đăng tải     Nối vòng tay lớn     Thông báo     Linh tinh           Pháp Âm       Hình ảnh

Trang chủ     English     Liên lạc     Trang chủ

 

Hit Counter
ISP Internet Access

 

www.lebichson.org

Thành lập

ngày 10 tháng 9 năm 2003